Hình ảnh trước cửa đình làng Nguyệt Áng nhưng năm 2000
Hướng đình cũng như quy mô kiến trúc hiện nay được bảo lưu từ sau lần sửa gần đây nhất vào tháng Tư năm Canh Tý niên hiệu Thành Thái (tháng 5 năm 1900) mà người đứng ra hưng công là Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp - Thái tử Thái Bảo, Văn minh điện Đại học sĩ, người làng Kim Lũ (xã Đại Kim), là con rể Tiến sĩ Lưu Quỹ. Tấm bia dựng vào dịp Lập Thu năm Canh Tý (tháng 8 năm 1900) hiện còn lưu ở đình cho biết điều đó.
Đình có kiến trúc kiểu chữ "Công" (工), gồm tòa Tiền tế 5 gian nối với Hậu cung bằng một tòa Ống muống. Đây là kiểu kiến trúc tiêu biểu của đình làng cổ vùng Bắc Bộ, thể hiện sự đăng đối và bề thế của công trình. Tòa Tiền tế là nơi tổ chức các nghi lễ, hội họp và sinh hoạt văn hóa của cộng đồng dân cư. Tòa Ống muống vừa có chức năng liên kết các hạng mục kiến trúc, vừa tạo chiều sâu không gian cho công trình. Hậu cung là nơi thờ Thành hoàng làng và các bậc tiền nhân có công với quê hương, đất nước. Trải qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo, đình vẫn giữ được cơ bản dáng vẻ kiến trúc truyền thống cùng nhiều giá trị nghệ thuật đặc sắc, phản ánh trình độ kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật điêu khắc của các thế hệ cha ông. Đây không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân mà còn là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Hình ảnh không gian thờ tự bên trong đình
Theo bản thần phả "Viết Kinh Dương Vương triều tri lược phụng lục" soạn ngày 16 tháng Giêng năm thứ 35 đời Vua Lý Cao Tông - 1210 (?), sao lại vào ngày 1 tháng Ba năm Thành Thái 13 (năm 1901) hiện còn lưu ở đình thì xưa kia, làng Nguyệt Áng gọi là Nguyệt Đảm trang. Khi Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay nhau, mỗi người đem theo 50 người con, kẻ lên rừng, người xuống biển, Người con cả theo Âu Cơ, sau lên ngôi vua, gọi là Hùng Vương, người con thứ ba tên là Công Ba, tính hào hoa phong nhã, thích ca hát, làu kinh sử, văn võ toàn tài, tinh thông thiên văn địa lý đã đi chu du khắp thiên hạ.
Hình ảnh khu đình làng Nguyệt Áng nhìn từ trên cao
Một lần, ông đến trang Nguyệt Đảm, thấy đất ấy ở thế đắc địa, có gò cao trước mặt, long hổ chầu vào, phía trước có án tạc kim quy, phía sau có hai con hoàng xà phục đến, đúng là đất anh linh tú khí. Ông bèn triệu các bô lão, cho 100 quan tiền để dựng ngôi đình theo hướng Quý Đinh (hướng chính Bắc); lại cho thêm ruộng để làm hương hỏa. Đến ngày 12 tháng Hai năm Bính Ngọ (?), Công Ba về Nguyệt Áng thăm lại đình, cùng vui với dân làng. Tiệc đang vui thì Công Ba hoá. Dân làng tôn ông làm thành hoàng, hàng năm đều có tế lễ vào các ngày 12 tháng Hai, 12 tháng Năm. Các triều vua đều phong ông là "Công Ba đại vương". Tục truyền, mộ của ông được gọi là Bãi Lăng, xứ đồng Cửa Đình.
Hiện nay, tại ngôi đình này còn giữ được 1 bản sao lục Kinh Dương Vương (văn bản sao chép ngày 1 tháng 3 năm Thành Thái 13 (1901) và 15 đạo sắc phong của các đời vua phong cho Công Ba đại vương:
1 đạo năm Chính Hòa thứ 4 (1683).
1 đạo năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710).
1 đạo năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730).
4 đạo năm Cảnh Hưng gồm Cảnh Hưng thứ 1 (1740); Cảnh Hưng thứ 28 (1767); Cảnh Hưng thứ 44 (1783) 2 đạo.
1 đạo năm Chiêu Thống thứ 2 (1787).
1 đạo năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1796).
1 đạo năm Bảo Hưng thứ 2 (1802).
2 đạo thời Tự Đức (Tự Đức thứ 6 (1853), Tự Đức thứ 33 (1880).
1 đạo năm Đồng Khánh.
1 đạo năm Duy Tân.
1 đạo năm Khải Định.
Hình ảnh đình làng Nguyệt Áng sau khi được tôn tạo năm 2025
Ngoài ra, tại đình Nguyệt Áng còn giữ được các tư liệu khác như: Bản xã phụng sự tế khí đẳng (sách chép về các đồ thờ cúng của bản xã) niên đại (1938), các hoành phi, câu đối, đại tự cổ có giá trị.
Tháng 01/2025, ngôi đình được Nhà nước đầu tư tu bổ, tôn tạo Đại đình, Sân, bó bồn trồng cây, bó vỉa, hệ thống cấp thoát nước, tường bao với tổng kinh phí 17.186.728.000 đồng.